Kim Định, học giả X, và đường hướng trả lời những câu hỏi về Claude Lévi-Strauss

Về các ý kiến xin xem:

  1. http://nguyenphucanh.net/ve-cau-truc-luan-claude-levi-strauss-va-luong-kim-dinh-mot-so-ghi-chu-ve-y-kien-cua-thay-giao-su-liam-kelley-13/
  2. http://nguyenphucanh.net/phan-hoi-tu-giao-su-liam-kelley/

Trước tiên tôi phải nói rằng tôi hoàn toàn đồng ý với hầu hết các điểm mà giáo sư Liam Kelley đưa ra, vì nếu đứng từ điểm nhìn của giáo sư, những lí giải của giáo sư là hợp lí. Tôi trong phần viết này chỉ đưa thêm một số thông tin, một vài câu hỏi và đặc biệt một điểm nhìn tham chiếu (perspective) rất khác về trứ tác của Claude Lévi-Strauss (CLS) và Kim Định (KĐ). Giáo sư cũng có thương tình vì biết tính tôi viết thường hay dẫn dụng lăng nhằng mất thời gian nên cứ bảo take it easy, viết kiểu bài blog thôi, không nên theo kiểu khoa học kĩ lưỡng. Miễn là để giáo sư hiểu ý tưởng. Vậy nên tôi phải tạo ra một nhân vật tưởng tượng là học giả X để nói những suy nghĩ tôi chưa có thời gian chứng minh cụ thể và tường tận, tránh bị nghi ngờ là cẩu thả trong nghiên cứu.

Continue Reading

Phản hồi từ giáo sư Liam Kelley

Phản hồi cho trao đổi của tôi tại:

Về cấu trúc luận, Claude Lévi-Strauss, và Lương Kim Định – Một số ghi chú về ý kiến của Thầy (Giáo sư) Liam Kelley (1/3)

ĐÂY LÀ NHỮNG GÌ TÔI LƯỢC DỊCH (KÈM NGUYÊN VĂN). MỌI SAI SÓT LÀ CỦA TÔI, NGƯỜI DỊCH.
Thầy Kelley có trao đổi lại mấy điểm mà tôi xin được tóm lược lại như sau:

LIAM KELLEY: Việc không Claude Lévi-Strauss (CLS) không làm tốt fieldwork chỉ là một phần của vấn đề. Có lẽ cách đúng hơn để nói về CLS là “ông ấy là một nhà lí thuyết vĩ đại nhưng là một học giả tệ”. Tại sao mọi người đều nghĩ về CLS như là một học giả “lớn” nhưng chả ai dùng những nghiên cứu của ông? Ông ấy dành rất nhiều thời gian nghiên cứu về thân tộc (kinship). Nhưng những ý tưởng của ông ấy về kinship có trở thành ý tưởng cơ bản để mọi người tiếp tục nghiên cứu không? Không. Ông ấy nghiên cứu rất nhiều về huyền thoại. Nhưng ý tưởng của ông về huyền thoại nay có phải là những ý tưởng cơ bản để mọi người tiếp tục nghiên cứu không? Không. Vậy nguyên nhân là tại sao? Và sao có thể nói CLS là vĩ đại nếu tác phẩm của ông ấy không vượt qua được thử thách của thời gian.

Continue Reading

Về cấu trúc luận, Claude Lévi-Strauss, và Lương Kim Định – Một số ghi chú về ý kiến của Thầy (Giáo sư) Liam Kelley (1/3)

TỔNG QUAN NHỮNG NỘI DUNG CẦN TRAO ĐỔI

Giáo sư Liam Kelley gần đây có một số bài viết về Kim Định: The exchange of women (Trao đổi Đàn bà) in obscure history (huyền sử), Large (Chinese) Rats, the Father of Modern Anthropology, and Vietnam’s Greatest (Unknown/Unrecognized) Historian, Vietnam’s Greatest (unknown/unrecognized) Historian và có bàn về Kim Định khi trả lời phỏng vấn Tạp chí Da màu. Trong những bài viết và phần phỏng vấn này, giáo sư có đề cập đến ba vấn đề khiến tôi cảm thấy thích thú.

Thứ nhất, giáo sư cho rằng Claude Lévi-Strauss, cha đẻ của nhân loại học hiện đại là một nhà nhân loại học tồi vì Levis-Strauss trong suốt sự nghiệp nghiên cứu của mình chỉ dành vài tháng ở Brazil, đi lại qua loa, thăm thú vài cộng đồng, đôi khi dừng lại ở một cộng đồng trong vài ngày và không dùng tốt ngôn ngữ bản địa. Field notes (ghi chú thực địa) của Lévi-Strauss cũng được viết sau đó nhiều năm. Nói cách khác, Claude Lévi-Strauss là nhà nhân loại học tồi vì ông không làm tốt “dân tộc chí” (ethnography). Nhưng tại sao Lévi-Strauss vẫn trở thành cha đẻ của Nhân loại học hiện đại? Giáo sư Kelley giải thích: đó là vì ông có ý tưởng, thứ dựa trên hiểu biết rộng về xã hội con người và triết học thu lượm thông qua quá trình đọc sách hơn là qua nghiên cứu nhân loại học ở thực địa, và từ đó, ông tạo ra những lí thuyết về xã hội con người. Ông buộc những nhà nhân loại học sau này phải suy nghĩ về những điều ông đã viết, để thử nghiệm những ý tưởng của ông, etc. Và vì thế, thúc đẩy sự phát triển của nhân loại học. Về vấn đề này, chúng tôi từ lịch sử phát triển của nhân loại học và dân tộc chí, sẽ chứng minh rằng Claude Lévi-Strauss không phải là nhân loại học tồi.

Continue Reading

Macau Winter School


Macau Winter School

Deadline for applications: Thursday 16 May 2013, 9.00 am (CET)

The Macau Winter School will focus on two interrelated themes: the theoretical issue of postcolonial hybridity and the descriptive/analytical problems presented by Asian cities. The first theme, extensively developed by such scholars as Homi Bhabha, Stuart Hall, and Paul Gilroy, has been applied to the analysis of the nation-state state by Akhil Gupta and others, while Michael Herzfeld has addressed some of the lived experiences of postcolonial and cryptocolonial societies using a comparative approach to urban communities in Asia and Europe. Historian and Anthropologist Engseng Ho has, for his part, reflected on interstitial connections between imperial and diasporic formations, as they are found in maritime port-cities like Macau.

Gupta, Herzfeld, and Ho will lead the Winter School and bring their expertise and experience, representing the rich mixture of their intellectual perspectives and individual trajectories to bear in interactive engagement with research students from various disciplinary backgrounds. This activity, conducted in the vibrant context of Macau, should ensure an unprecedented training experience for the selected PhD students. The exercise should help them, as they pursue their own research projects, to elicit and develop new theoretical paradigms of postcolonial urban hybridity informed by experiences from various contexts in Asia and elsewhere.

The key themes related to postcolonial urban hybridity include but are not limited to:

  • Rethinking notions of hybridity, métissage, creolization, etc., in urban contexts
  • The colonial / postcolonial city – cities before, during, and after Empire
  • Postcolonial and cryptocolonial nation-states and cities
  • Port-cities and maritime connections
  • Contests over land use and ownership (gentrification, eviction, “disneyfication,” ethnic and spatial “cleansing”)

 Participation is highly competitive and will be limited to a maximum of 20. The IIAS Summer School 2012 has welcomed participants from Europe, America, Asia and Australia and 16 nationalities were represented.

See for the criteria and the application form the information under Application.

The registration fee for participation at the IIAS Summer Programme is 200 Euro. For more information on what is included, please see General information.

A small number of grants will be available for students. For more information, please see Financial support.

 

Continue Reading

How about researching on the relationship between political struggle and magical formulas?

Recently, I found this video from internet which records the struggle of Duong Noi farmers against the local authority for their land advantage. Remarkable is these farmers who used the GHOST MONEY and PAPER-BAMBOO PUPPETS (to be burned on worship and on funeral) as the magical weapon for hindering polices from coercing. — at Duong Noi, Ha Dong, Ha Noi city, Vietnam.

Continue Reading

Về hai khái niệm An ninh con người và Không an ninh con người trong nhân học xã hội

Về hai khái niệm An ninh con người và Không an ninh con người trong nhân học xã hội

(About Human Security and Human Insecurity in Social Anthropology)

Trong nhân học xã hội (social anthropology) có một phân ngành chuyên môn nghiên cứu về An ninh con người (Human Security). Định nghĩa về an ninh con người được UNDP (United Nations Development Programme – Chương trình phát triển của Liên Hợp Quốc) xác định với những nội hàm khá hẹp và tập trung vào những hiểm họa liên quan đến sự độc lập của quốc gia và chính quyền nên bị các nhà nhân học như Donna Winslow phê phán là quá hẹp, không đặt con người vào trọng tâm (ừ thì đúng thế rồi, bởi vì các vị ở UNDP thì quan tâm đến những vấn đề thuộc về chính sách vĩ mô, thể chế kinh tế và mô hình nhà nước, còn Donna Winslow là nhà nhân học, mối quan tâm chính đương nhiên

phải là con người, hay đặt con người vào trung tâm). Vì triển khai trên trục lấy con người làm trung tâm mà Donna Winslow đã vạch ra hai nội hàm cơ bản của Human Security

–          Freedom from want: Tự do, giải thoát khỏi đói nghèo thiếu thốn (đây chính là phương diện kinh tế của an ninh con người).

–          Freedom from fear: Tự do, giải thoát khỏi những đe dọa và sợ hãi (đây chính là phương diện chính trị của an ninh con người).

Sau này định nghĩa này lại được mở rộng thêm với một nội hàm nữa

–          Freedom from future generations to inherit a sound natural environment: Tự do cho các thế hệ tương lai tiếp tục thụ hưởng một môi trường thực sự tự nhiên (đây chính là phương diện sinh thái học ecological của khái niệm Human Security (theo Oscar Salemink)

Donna Winslow: hẹp nhất, an ninh con người được quyết định bởi việc khả thể con người đó có được bảo vệ khỏi những tổn thương vật lí trên phương diện sinh mệnh và cách sống hay không. Còn rộng nhất thì an ninh con người có nghĩa là một môi trường hoàn toàn không có những nguy hiểm đe dọa. Còn thế nào là môi trường không có nguy hiểm đe dọa này lại được định nghĩa bởi chính những người và cộng đồng đó. Chính cách diễn đạt này đã đẩy human security sang khía cạnh cảm giác. Cảm giác an toàn hay không an toàn của con người là điều có thể xác định được không?, lượng hóa được không?, hay thậm chí là miêu tả được không? Cảm giác an toàn hay không an toàn của người Việt Nam, ví dụ vậy, khi sống trong xã hội Việt Nam là có thực hay chỉ là cảm giác của một số người? Một nghiên cứu về Human Security liệu có ý nghĩa thực sự hay không khi chúng tôi nhận thấy an ninh với người này đôi khi lại là không an ninh với người khác. Cuộc chiến chống Khủng bố có thể đem lại an ninh (security) cho một số người, nhưng tước đoạt an ninh đẩy những người khác vào tình trạng insecurity. Một vấn đề được giải quyết như chuyện những người tị nạn được trở về định cư sẽ dẫn đến vô vàn những vấn đề khác nảy sinh. Vậy nên VỨT MÌNH VÀO TRONG CẶP ĐÔI CỦA SECURITY HAY INSECURITY để mà tư duy là đã vướng vào cái bẫy KHÓ MINH BẠCH HÓA của một cặp khái niệm thuần túy cảm giác.

Kết luận cuối cùng khi viết xong bài này đó là: Đọc nhiều vào, nhưng đừng để mấy khái niệm này nó đè nén mình. Thực sự nghĩ về những khái niệm được đặt vấn đề nặng tính cảm giác nhiều khi quẫn lắm. Không lối thoát.

Continue Reading

Một note nhỏ về Thuyết biểu tượng chủng tộc (Ethno-symbolism)

 

Năm 1991, trong một quyển sách có tên là “Căn tính của quốc gia” National Identity một nhà nghiên cứu đã dành cả đời mình nghiên cứu về chủ nghĩa quốc gia (nationalism) và Dân tộc tính (ethnicity) là Anthony D. Smith đã viết một cách khá thú vị về chủ nghĩa biểu tượng chủng tộc, tồn tại hết sức phổ biến hiện nay ở các quốc gia trên thế giới.

Thuyết biểu tượng chủng tộc, có thể được hiểu là việc lí giải một quốc gia được hình thành và có được sức mạnh của nó thông qua những huyền thoại, kí ức, truyền thống cùng với những biểu tượng của di sản dân tộc, từ đó nhấn mạnh thành tố này như là thành tố cốt lõi, quyết định đến việc hình thành đặc tính của một quốc gia. Vậy nên những người theo chủ thuyết này (ethnosymbolist) là những người lúc nào cũng kêu gọi tìm về một bản sắc, đặc tính, căn tính, thân phận (identity) của quốc gia mình. Đây là cách hiểu của chúng tôi về ethno-symbolism.

Anthony D. Smith cho rằng các quốc gia được hình thành thông qua một số nhóm dân tộc đã hình thành từ trước đó. Nói một cách khác là các quốc gia này, thường được hình thành trên cơ sở một dân tộc “nòng cốt” nào đó. Ví dụ như quốc gia Việt Nam được hình thành trên cơ sở Kinh tộc. Quốc gia Nhật Bản được hình thành trên cơ sở dân tộc nòng cốt là Nihonjin. Vậy nên khi đã định hình một quốc gia thì việc phân ra các nhóm dân đa số (majority) và các nhóm dân thiểu số (minorities) là điều hiển nhiên với những quốc gia đa dân tộc (hiện giờ hầu hết các quốc gia đều trong tình trạng quốc gia đa dân tộc). Nhóm dân đa số thường có xu hướng áp đặt văn hóa lên các nhóm dân thiểu số  nên mâu thuẫn giữa nhóm dân đa số và nhóm dân thiểu số là không thể tránh khỏi. Như vậy tự thân quốc gia nào cũng đã ôm trong mình một lò thuốc súng của xung đột sắc tộc, có thể nổ tung bất kì lúc nào? Chính sách không hợp lí của nhà nước, khủng hoảng kinh tế và thiếu dân chủ là những con đường chủ yếu đưa các quốc gia vào khủng hoảng sắc tộc.

Việt Nam hiện giờ thực sự tiềm ẩn nhiều nguy cơ của một cuộc xung đột sắc tộc do bản thân chính sách dân tộc chưa hợp lí của nhà nước. Chúng tôi dự định sẽ suy nghĩ và viết thêm về vấn đề này trong mấy ngày tới. Cũng cần phải lưu ý rằng việc nghiên cứu chính sách không phải là hướng nghiên cứu chính của chúng tôi, vậy nên chúng tôi bàn đến những vấn đề này thuần túy từ góc độ Nhân học xã hội.

Continue Reading